Điều gì giúp trái phiếu chính phủ Việt Nam không bị bán tháo?
Trái phiếu chính phủ Việt Nam cách ly khỏi làn sóng bán tháo tại Nhật, Anh, Đức bởi nhà đầu tư trong nước nắm giữ gần như tuyệt đối, còn khối ngoại sở hữu chưa đến 1%.
Trái phiếu chính phủ ở nhiều quốc gia phát triển như Nhật, Anh, Đức vừa trải qua làn sóng bán tháo, đẩy lợi suất lên cao nhất hơn chục năm. Tại Mỹ, lợi suất kỳ hạn 10 năm cũng liên tục leo thang lên gần 4,8%, tiệm cận mức cao nhất từ cuối 2023.
Ở Việt Nam, trái phiếu chính phủ nhích lên, nhưng được giới quan sát đánh giá ôn hòa hơn so với thế giới. Kỳ hạn 10 năm có lợi suất 4,43%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với đầu năm, nhưng thấp hơn đáng kể so với cách đây một thập kỷ, giai đoạn lợi suất biến động mạnh do mặt bằng lãi suất và rủi ro vĩ mô ở mức cao.
Theo ông Diệp Quốc Khang, Giám đốc Nghiệp vụ cấp cao lĩnh vực trái phiếu của quỹ đầu tư Dragon Capital, tỷ lệ nhà đầu tư nội địa cao là yếu tố quan trọng nhất giúp trái phiếu chính phủ cách ly khỏi đợt bán tháo toàn cầu.
Đến cuối năm ngoái, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm khác nắm 61,6% tổng khối lượng trái phiếu lưu hành trên thị trường. Các ngân hàng sở hữu khoảng 37,1%. Phần còn lại được nắm giữ bởi các nhà đầu tư tổ chức, trong đó khối ngoại chỉ khoảng 0,15%. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với những quốc gia láng giềng như Philippines (5%), Thái Lan (9,3%), Indonesia (12,8%) và Malaysia (34,2%).
Theo ông Khang, khi xuất hiện một đợt bán tháo ở thị trường phát triển, các quỹ đầu tư phòng hộ sẽ giảm thời gian đáo hạn bình quân của danh mục bằng cách bán trái phiếu chính phủ ở các thị trường mới nổi. Tuy nhiên, áp lực này không lan đến Việt Nam bởi sở hữu của khối ngoại quá thấp.
"Việt Nam là một trong những thị trường có cơ cấu nhà đầu tư ít đa dạng và lợi suất ít biến động nhất khu vực", ông Khang nói.
Dữ liệu của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, nơi niêm yết trái phiếu chính phủ, cũng cho thấy mức độ tham gia khiêm tốn của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường thứ cấp. Trong tháng 7, bình quân mỗi phiên thị trường giao dịch khoảng 16.700 tỷ đồng, nhưng khối ngoại chỉ chiếm 3,4%. Ngay cả những tháng cao điểm, tỷ trọng giá trị giao dịch cũng không quá 6%.
Lý giải điều này, ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng, Giám đốc cấp cao nghiên cứu chiến lược thị trường của Công ty Chứng khoán HSC, liệt kê hai lý do.
Thứ nhất, mức độ tiếp cận của dòng vốn quốc tế hạn chế do trái phiếu chính phủ Việt Nam chưa nằm trong các chỉ số trái phiếu mới nổi lớn như JPMorgan GBI-EM Global Diversified hay Bloomberg EM Local Currency Government Index. Thứ hai, các rào cản về thủ tục, thuế và quy định tài khoản vốn gián tiếp khiến vốn ngoại khó ra vào nhanh như tại những thị trường có độ mở lớn hơn.

Tuy nhiên, sự cách ly khỏi đợt bán tháo vừa qua không đồng nghĩa tách biệt hoàn toàn. Các kênh truyền dẫn gián tiếp qua tỷ giá, lạm phát và chính sách tiền tệ vẫn hiện hữu.
Kênh truyền dẫn đáng chú ý nhất, theo ông Dũng, là tỷ giá. Khi lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ và các thị trường phát triển tăng mạnh, USD thường lên giá, gây áp lực cho tiền đồng. Ngân hàng Nhà nước có thể phải sử dụng dự trữ ngoại hối hoặc hút thanh khoản VND để ổn định tỷ giá, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất liên ngân hàng và lợi suất trái phiếu chính phủ trong nước tăng.
Lợi suất trái phiếu Mỹ tăng cũng làm thu hẹp chênh lệch lợi suất VND và USD, ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn tương đối của tài sản tiền đồng. Ngoài ra, giá dầu tăng trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang có thể gây ra lạm phát, khiến nhà điều hành thận trọng hơn với chính sách tiền tệ.
Ông Dũng dự báo nếu đà tăng lợi suất toàn cầu kéo dài, áp lực lên trái phiếu chính phủ Việt Nam có thể xuất hiện. Song, mức độ nhiều khả năng sẽ thấp hơn đáng kể so với các thị trường mới nổi có tỷ trọng nhà đầu tư nước ngoài cao.
"Tỷ lệ nhà đầu tư nội địa cao giúp trái phiếu chính phủ Việt Nam ít chịu tác động trực tiếp từ các đợt bán tháo toàn cầu, nhưng cần hiểu chính xác đây là hiệu ứng giảm biên độ và tạo độ trễ trong kênh truyền dẫn, chứ không phải miễn nhiễm hoàn toàn", ông Dũng nói.
Vấn đề đặt ra là khi tỷ trọng nắm giữ và giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tăng lên theo lộ trình mở cửa thị trường vốn, trái phiếu Việt Nam còn cách ly tốt khỏi những cú sốc toàn cầu?
Trả lời VnExpress, các chuyên gia đều cho rằng độ nhạy của thị trường chắc chắn tăng, nhưng đó không phải vấn đề tiêu cực hay đáng ngại.
Theo bà Hoàng Việt Phương, Giám đốc Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I, việc mở cửa thị trường sẽ làm tăng mức độ liên thông giữa trái phiếu chính phủ Việt Nam và thế giới. Khi đó, biến động lợi suất có thể lớn hơn. Tốc độ phản ứng với chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) hoặc các đợt dịch chuyển dòng vốn quốc tế cũng nhanh hơn. Tuy nhiên, trong trung hạn, rủi ro này có thể được kiểm soát nhờ nền tảng vĩ mô tiếp tục tăng trưởng mạnh, nợ công trong vùng an toàn và vai trò chi phối của nhà đầu tư tổ chức trong nước.
"Khả năng xuất hiện các đợt bán tháo quy mô lớn tương tự một số thị trường mới nổi khác vẫn chưa cao", bà Phương dự đoán.
Ở góc độ tích cực, ông Diệp Quốc Khang cho rằng việc có thêm sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài đem đến nhiều lợi ích như thu hút dòng vốn ngoại, tăng thanh khoản thị trường, cải thiện khả năng định giá. Trái phiếu chính phủ Việt Nam sẽ bắt đầu toàn cầu hóa khi tỷ lệ tham gia của khối ngoại đạt khoảng 15-25%. Độ nhạy về lợi suất tốt hơn, đường cong lợi suất khi đó mang tính thị trường rõ hơn.
Theo chuyên gia Dragon Capital, Việt Nam không nên cố giữ trái phiếu chính phủ cách ly với thế giới, mà nên tăng khả năng hấp thụ các cú sốc bằng cách phát triển đồng thời nhà đầu tư nước ngoài, công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm xã hội, nhà tạo lập thị trường và thị trường repo (hợp đồng mua lại).
Nguồn : vnexpress